ROE là gì? Ý nghĩa của chỉ số ROE

0
72
Rate this post

ROE là gì?

Khái niệm ROE

ROE (Return On Equity) là tỷ suất lợi tức trên vốn chủ sở hữu. Như cái tên của nó, đây là chỉ số đo lường khả năng sinh lời của một khoản đầu tư trên mỗi đồng vốn bỏ ra. Cũng có thể hiểu rằng chỉ số này đo lường khả năng sử dụng vốn hiệu quả của công ty.

ROE là một chỉ số quan trọng đối với các nhà đầu tư tiềm năng. Vì họ muốn xem công ty sẽ sử dụng tiền của họ để tạo ra lợi nhuận hiệu quả như thế nào. Tỷ lệ này thường được sử dụng để so sánh sức khỏe của một doanh nghiệp với các doanh nghiệp cùng ngành và với thị trường rộng lớn hơn.

Ý nghĩa của chỉ số ROE

Với ROE, cổ đông sẽ biết được liệu họ có nhận được lợi nhuận tốt từ số tiền góp vốn thông qua hình thức sở hữu cổ phiếu của công ty không.

Để làm hài lòng cổ đông và các nhà đầu tư, doanh nghiệp phải có khả năng tạo ra ROE cao hơn lợi tức từ những khoản đầu tư có rủi ro thấp hơn.

ROE sẽ được so sánh với giá trị lịch sử và với chỉ số ROE trung bình ngành – điều này giúp người xem hình dung đầy đủ khả năng sinh lời, hiệu quả hoạt động đầu tư của tổ chức.

Chỉ số ROE là kết quả của phép chia giữa thu nhập ròng và vốn chủ sở hữu trung bình của cổ đông, nếu thu nhập càng lớn, ROE càng cao, lợi nhuận trên mỗi cổ phần sẽ nhiều hơn.

Bằng cách so sánh chỉ số ROE của công ty với ROE trung bình của ngành, nhà đầu tư có thể xác định lợi thế cạnh tranh. Chỉ số này sẽ cung cấp thông tin về cách thức ban lãnh đạo công ty sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu để phát triển doanh nghiệp.

Chỉ số ROE tăng trưởng bền vững theo thời gian chứng tỏ công ty phát  huy tốt việc tạo giá trị cho cổ đông, biết cách tái đầu tư thu nhập, tăng năng suất, lợi nhuận. Ngược lại nếu ROE giảm có nghĩa ban lãnh đạo đưa ra quyết định kém hiệu quả, không sinh lời tốt.

ROE là gì? Ý nghĩa quan trọng của ROE với hoạt động quản trị
ROE là gì? Ý nghĩa quan trọng của ROE với hoạt động quản trị

Cách tính chỉ số ROE

ROE được tính bằng công thức:

công thức tính ROE

Trong đó:

  • Thu nhập ròng được xác định trước khi trả cổ tức cho cổ đông phổ thông và sau khi trả cổ tức cho cổ đông ưu đãi và khoản lãi vay. Dữ liệu này trích trực tiếp từ báo cáo thu nhập của công ty. Nhà đầu tư dễ dàng tính được ROE cho bất kỳ công ty nào nếu thu nhập ròng và vốn chủ sở hữu đều là số dương.
  • Vốn chủ sở hữu bình quân của cổ đông là kết quả tính cộng vốn chủ sở hữu ở đầu kỳ kế toán. Đầu và cuối kỳ phải trùng với khoảng thời gian mà doanh nghiệp có được thu nhập ròng. Dữ liệu này được lấy từ bảng cân đối kế toán.

Ngoài ra, có thể xác định tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu bằng cách:

công thức tính ROE 2

Tỷ lệ duy trì = 1 – tỷ lệ chi trả cổ tức cho cổ đông.

Chỉ số ROE trong đầu tư chứng khoán

Có thể nói ROE là một trong những dấu hiệu mà nhà đầu tư cần quan tâm trước khi quyết định sở hữu một mã cổ phiếu nào. Ai cũng kỳ vọng doanh nghiệp phát hành cổ phiếu ngày càng phát triển, giá trị cổ phiếu tăng cao thì lợi nhuận thu về cho nhà đầu tư tăng theo tỷ lệ thuận.

Bằng cách lấy ROE nhân với tỷ lệ duy trì của công ty, bạn dễ dàng tính được tỷ lệ tăng trưởng trong tương lai của doanh nghiệp. Tỷ lệ duy trì là tỷ lệ phần trăm khoản thu nhập ròng công ty giữ lại để tái đầu tư, tài trợ cho tăng trưởng trong tương lai mà doanh nghiệp không cần phải vay nợ.

  • Nếu hai công ty có chỉ số ROE giống nhau mà tỷ lệ duy trì khác nhau thì SGR sẽ khác nhau.
  • Một cổ phiếu đang tăng trưởng với tốc độ chậm so với SGR có khả năng mã cổ phiếu này đang bị định giá thấp hoặc thị trường đang quan tâm đến vấn đề rủi ro hơn là lợi nhuận.

Rất nhiều nhà đầu tư trên thị trường dựa vào ROE để chọn ra mã cổ phiếu yêu thích. Các công ty có ROE âm hoặc cao bất thường được coi là dấu hiệu cảnh báo, cần được nghiên cứu kỹ. Bên cạnh đó có trường hợp hiếm gặp chỉ số ROE âm vẫn tốt: Do chương trình mua lại cổ phiếu từ dòng tiền của doanh nghiệp nên mẫu số giảm đi kéo theo ROE tăng.

Chỉ số ROE bao nhiêu là tốt?

ROE tốt hay xấu còn phụ thuộc vào ROE trung bình ngành của công ty. Một số ngành có xu hướng ROE cao hơn những ngành khác (hoặc yêu cầu ít vốn tự có hơn để hoạt động). Do đó, so sánh ROE thường có ý nghĩa nhất giữa các công ty trong cùng ngành. Và định nghĩa tỷ lệ “cao” hay “thấp” còn phụ thuộc vào bối cảnh của công ty.

Ví dụ, ROE tiêu chuẩn cho một doanh nghiệp ngành công nghiệp ô tô là khoảng 12,5%. Tuy nhiên, đôi với công ty trong lĩnh vực bán lẻ thì ROE là trên 18%. Sự khác nhau về tiêu chuẩn ROE giữa hai doanh nghiệp trên phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố ngành hàng đang kinh doanh. Chỉ số ROE càng cào càng thể hiện được công ty đang quản lý và sử dụng hiểu quả nguồn vốn của mình.

Môt điểm lưu ý với các nhà đầu tư khi xét đến chỉ số ROE của một công ty là nên đánh giá theo khoảng thời gian, ít nhất là ba năm. Công ty có ROE>20% thì được xem là có sức cạnh tranh tốt.

Lưu ý khi chỉ số ROE quá cao

ROE trung bình hoặc cao sẽ được ưu tiên hơn so với ROE thấp. Nhưng ROE quá cao chưa chắc là dấu hiệu tốt, nhất là khi nó cao hơn trung bình của các nhóm ngang hàng.

ROE cao là dấu hiệu tốt đẹp khi thu nhập ròng lớn hơn rất nhiều so với vốn chủ sở hữu, công ty đang phát triển rất mạnh. Nhưng nếu tài khoản vốn chủ sở hữu rất nhỏ hơn so với thu nhập ròng thì nguy cơ cao có rủi ro.

  • Nguyên nhân vốn chủ sở hữu nhỏ có thể do công ty trải qua một khoản thời gian dài thua lỗ, và các khoản này được cập nhật trong bảng cân đối kế toán, phần mục vốn chủ sở hữu ở dạng “lỗ giữ lại”. Lâu dần chúng làm giảm vốn chủ sở hữu của công ty.
  • Giả sử công ty làm ăn phát triển trở lại và ghi nhận lãi thì kết quả ROE lúc này sẽ cao bất ngờ do mẫu số quá thấp. Điều này gây hiểu lầm rằng công ty đang hoạt động và phát triển mạnh mẽ.

Bên cạnh đó, khi công ty có dư nợ quá nhiều, vốn chủ sở hữu cũng giảm tương ứng với mức tăng của nợ vay (vốn chủ sở hữu = tài sản – nợ phải trả). Cuối cùng kết quả tính ROE cũng cao bất thường.

Những hạn chế của chỉ số ROE

Có thể thấy, ROE quá cao đôi khi không phải là dấu hiệu tốt. Vì thế, trong quá trình tìm hiểu ROE là gì, bạn cần lưu ý cả các hạn chế của chỉ số này. ROE cũng có thể bị sai lệch, thay đổi do nhiều yếu tố như lỗ trong dài hạn, nợ vay lớn, mua lại của phiếu, …

Một điểm hạn chế khác chính là ROE có thể loại trừ các tài sản vô hình khỏi vốn chủ sở hữu của cổ đông. Tức là các khoản mục phi tiền tệ như bằng sáng chế, nhãn hiệu, bản quyền. Như vậy ROE sẽ có sự sai lệch, khó so sánh với các công ty mà họ tính luôn tài sản vô hình.

Mỗi nhà đầu tư lại tính ra một chỉ số ROE khác nhau do họ sử dụng các thành phần khác nhau trong công thức: sử dụng vốn chủ sở hữu trung bình hai kỳ, đầu kỳ, cuối kỳ,…. Điều này dẫn đến sự không nhất quán và ra quyết định đầu tư không giống nhau của từng nhà giao dịch.

Chỉ số ROE là một căn cứ đánh giá tài chính quan trọng
Chỉ số ROE là một căn cứ đánh giá tài chính quan trọng

ROA là gì?

Định nghĩa chỉ số ROA 

Chỉ số ROA (Return On Asset) là tỷ số lợi nhuận ròng trên tổng tài sản. Nó cho ta biết tỷ lệ giữa lợi nhuận sau thuế trên tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp. Qua đó giúp nhà đầu tư đánh giá được độ hiệu quả trong việc sử dụng tài sản của doanh nghiệp.

Trong báo cáo tài chính, bạn có thể tìm thấy lợi nhuận sau thuế ở bảng kết quả kinh doanh. Còn tổng giá trị tài sản nằm ở bảng cân đối kế toán.

Công thức tính chỉ số ROA

ROA = (Lợi nhuận sau thuế/Tổng tài sản) x 100%

Trong đó:

  • ROA: Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (đơn vị tính: %)
  • Lợi nhuận sau thuế: Doanh thu trừ đi chi phí (lợi nhuận ròng)
  • Tài sản: Vốn chủ sở hữu và vốn vay nợ

Ví dụ: Công ty A có tổng giá trị tài sản là 1.000 tỷ. Mỗi năm công ty A tạo ra lợi nhuận sau thuế là 200 tỷ. Khi này tỷ số ROA là 20%. Nghĩa là 1 đồng tài sản, công ty A tạo ra được 0.2 đồng lợi nhuận sau thuế.

Ý nghĩa chỉ số ROA

Chỉ số ROA đánh giá mức độ hiệu quả của việc sử dụng vốn doanh nghiệp. Cụ thể phản ánh 01 đồng tài sản doanh nghiệp có thể tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu.

ROA cao cho nhà đầu tư biết doanh nghiệp đang khai thác tài sản hiệu quả để tạo lợi nhuận. Những chứng khoán có chỉ số ROA cao thường được ưa chuộng hơn và có giá trị cao hơn.

Chỉ số ROA thấp cho thấy các nguồn lực của doanh nghiệp chưa được khai thác hiệu quả.

Có một số trường hợp doanh nghiệp hoạt động tốt, nhưng chỉ số ROA thấp. Chúng thường là doanh nghiệp hoạt động không cần đầu tư vào tài sản cố định vẫn có thể tạo ra lợi nhuận tốt. Ví dụ như ngành hàng tiêu dùng, công nghệ thông tin. Lúc này nhà đầu tư nên xét thêm chỉ số khác như ROE, P/E để đánh giá chính xác.

Đối với các doanh nghiệp yêu cần nhiều vốn để hoạt động như ngành sản xuất công nghiệp nặng. Khi sử dụng chỉ số ROA đánh giá, nhà đầu tư nên so sánh giữa các doanh nghiệp cùng ngành. Hoặc so sánh với chính chỉ số ROA trong quá khứ của doanh nghiệp.

Trong 1 ngành nghề, doanh nghiệp nào có chỉ số ROA cao hơn thì khai thác tài sản tốt hơn. Nếu doanh nghiệp có chỉ số ROA tăng dần theo thời gian. Điều này cho thấy mức độ hiệu quả khai thác tài sản của doanh nghiệp ngày càng được cải thiện.

Những lưu ý khi sử dụng chỉ số ROA để đánh giá doanh nghiệp

Dù chỉ số ROA giúp nhà đầu tư đánh giá được khả năng khai thác tài sản của doanh nghiệp. Nhưng trong một số trường hợp chúng ta chỉ xét riêng chỉ số ROA thì không chính xác.

Ví dụ ở trên, những doanh nghiệp trong ngành tiêu dùng, CNTT không cần nhiều tài sản cố định. Do vậy chỉ số ROA thường thấp. Nhưng nó không phản ánh được hiệu quả hoạt động của công ty. Chúng ta cần phải xét nhiều chỉ số khác như ROE, P/E mới có thể đánh giá chính xác.

Bên cạnh đó, việc xét đến cơ cấu trong tài sản của doanh nghiệp cũng vô cùng cần thiết. Tài sản của doanh nghiệp gồm vốn cổ đông và vốn vay. Tỷ lệ giữa hai nguồn vốn này cũng là chỉ số quan trọng. Nó giúp bạn đánh giá được mức độ rủi ro trong cơ cấu tài chính doanh nghiệp. Từ đó tác động đến quyết định đầu tư của chúng ta.

Hoàn toàn khác đối với lĩnh vực tài chính như các ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm. Lúc này chỉ số ROA có thể sử dụng độc lập. Bởi tài sản của các doanh nghiệp này thường là khoản vay, chứng khoán, tiền gửi. Chúng đều có tính thanh khoản cao, được quy lập trích lục dự phòng. Do đó tổng tài sản được hoạch định trên bảng kế toán của những đơn vị này sẽ tương đối gần so với giá trị thực tế và giá trị thị trường.

Mối quan hệ giữa chỉ số ROA và ROE 

Chỉ số ROE (Return on Equity) là tỷ số lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu. Nó phản ánh hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu cùng mức độ rủi ro cơ cấu tài sản. Do vậy, ROA dù là chỉ số quan trọng nhưng không được đánh giá cao bằng chỉ số ROE.

Mối quan hệ giữa ROA và ROE là thông qua hệ số vay nợ, nợ càng ít càng tốt. Trường hợp tỷ lệ giữa nợ trên vốn chủ sở hữu nhỏ hơn 1 là lý tưởng nhất.

Theo quy chuẩn quốc tế, nếu một công ty có chỉ số ROE lớn hơn 15%. Điều này thể hiện công ty đủ năng lực tài chính. Lúc này chỉ số ROA sẽ lớn hơn 7.5%.

Tuy nhiên để đánh giá tình hình công ty chính xác nhất, không nên xét một năm riêng lẻ. Nhà đầu tư nên xét ít nhất là 3 năm. Nếu doanh nghiệp duy trì ROE>10% và kéo dài được ít nhất 3 năm sẽ là doanh nghiệp tốt.

ROA >7.5% và duy trì được 3 năm thì doanh nghiệp tốt.

ROA và ROE
ROA và ROE

Ví dụ biểu thị mối quan hệ giữa chỉ số ROA và ROE

Có hai công ty X và Y với những hiệu quả kinh doanh như sau:

  • Công ty X: Vốn chủ sở hữu: 200 tỷ, Nợ 0 đồng, Lợi nhuận sau thuế: 40 tỷ
  • Công ty Y: Vốn chủ sở hữu: 400 tỷ, Nợ 150 đồng, Lợi nhuận sau thuế: 100 tỷ

Khi đó, công ty X và Y có chỉ số ROE lần lượt là 20% và 25%. Trong khi đó, chỉ số ROA của công ty X và Y lần lượt là: 20% và 18.1%.

Ta thấy công ty X đang không có vay nợ, còn công ty Y có vay nợ. ROE của hai công ty lớn hơn 15%, cho thấy tình hình tài chính của công ty đang ổn định. Tuy nhiên, chỉ số ROA của công ty X lớn hơn công ty Y. Do đó, công ty X đang sử dụng vốn hiệu quả hơn công ty.

********************

 

Bản quyền bài viết thuộc thcs-thptlongphu. Mọi hành vi sao chép đều là gian lận!
Nguồn chia sẻ: https://thcs-thptlongphu.edu.vn
https://thcs-thptlongphu.edu.vn/roe-la-gi/

Đăng bởi: Thcs-thptlongphu.edu.vn

Chuyên mục: Tổng hợp